Bí quyết ngăn ngừa chứng Cao huyết áp

  • Bệnh cao huyết áp tức là nói về áp lực co bóp và hay trương giãn của động mạch tăng cao (>= 140/90mmHg) khi đang ở trạng thái nghỉ ngơi, thường thường đi kèm theo các rối loạn về trao đổi chất béo và đường, cùng với chức năng của các cơ quan như tim, não, thận và võng mạc… hoặc là các cơ quan này bị thay đổi, là một chứng bệnh toàn thân với đặc trưng là các cơ quan sẽ tổ chức lại. Hãy nghỉ ngơi 5 phút, nếu như huyết áp đo được từ 2 lần trở lên không phải trong cùng một ngày > = 140/90 mmHg thì có thể chẩn đoán mắc chứng cao huyết áp.
  • Theo lâm sàng cho thấy có rất nhiều người mắc bệnh cao huyết áp, đặc biệt là những người mập phì thì thường kèm theo bệnh tiểu đường và bệnh tiểu đường thì đa phần cũng kèm theo cao huyết áp. Do đó có thể nói rằng 2 chứng bệnh này có cùng nguồn gốc với nhau. Nguyên nhân như sau:
  • Cao huyết áp và bệnh tiểu đường có thể chứa một gen di truyền giống nhau; huyết quản của những người bị bệnh tiểu đường rất mẫn cảm với các kích thích tố có tác dụng làm tăng giảm huyết áp; bệnh tiểu đường rất dễ gây ra những tổn thương cho thận, sau khi thận bị tổn thương sẽ dẫn đến huyết áp tăng cao. Ngoài ra, những người bị bệnh tiểu đường do bởi lượng đường trong máu gia tăng, tính kết dính của máu cũng tăng cao, thành huyết quản sẽ bị tổn thương, lực cản của huyết quản cũng tăng cao, do đó rất dễ dẫn đến cao huyết áp.
  • Từ đó có thể thấy rằng cao huyết áp và bệnh tiểu đường đều có liên quan đến mỡ máu cao, do đó để phòng ngừa bệnh cao huyết áp và bệnh tiểu đường thì đều cần phải giảm lượng mỡ trong máu. Người bệnh sau khi đã hiểu được điều này, so sánh sẽ thấy được những ưu thế khác biệt giữa những sản phẩm cũng loại. Hiện nay những loại thuốc giảm huyết áp, giảm lượng đường trong máu đang được mua bán trên thị trường đa phần đều chỉ có một chức năng riêng biệt, còn những loại thuốc giảm lượng mỡ máu thì đa phần đều gây ra một tổn hại nhất định đối với gan, việc nghiên cứu chế tạo loại thuốc này được dựa theo đặc điểm bệnh lý, trong lúc làm giảm huyết áp, giảm đường máu còn đồng thời làm giảm cả mỡ máu, từ đó đạt được công hiệu vừa trị liệu, vừa xóa bỏ cả nguồn gốc bệnh.

6 dấu hiệu nguy hiểm của chứng bệnh cao huyết áp

Đau đầu: vị trí đa phần nằm ở não sau, đi kèm theo thường có triệu chứng rợn người, buồn nôn. Nếu như thường xuyên thấy đau đầu, hơn nữa cảm giác rất đau, đồng thời lại thấy rợn người muốn buồn nôn thì đây rất có thể là dấu hiệu chứng cao huyết áp đã chuyển sang ác tính.

Hoa mắt: người bệnh là nữ đa phần sẽ có triệu chứng này, có thể xảy ra khi đột ngột ngồi xuống hoặc đứng lên.

Ù tai: hai tai cảm thấy bị ù, thời gian liên tục kéo dài

Hồi hộp khó thở: chứng cao huyết áp sẽ làm cho cơ tim dày lên, tim mở rộng, cơ tim tắt nghẽn, chức năng tim không toàn vẹn, tất cả những điều này đều dẫn đến chứng hồi hộp khó thở.

Mất ngủ: đa phần là khó ngủ, sớm tỉnh dậy, giấc ngủ không sâu, dễ gặp ác mộng, dễ hoảng sợ. Những điều này đều có liên quan đến rối loạn chức năng lớp vỏ đại não và sự mất cân băng chức năng của thần kinh tự chủ.

Tứ chi tê mõi:  thường là các đầu ngón, ngón chân bị tê mõi, bề mặt da có cảm giác như bị kiến bò, ngón tay không linh hoạt. Những bộ phận khác trên cơ thể cũng có thể xuất hiện tình trạng tê mõi, hoặc có thể thấy khác lạ, thậm chí có thể bị bán thân bất toại.

Tất cả những triệu chứng trên đều là các dấu hiệu nguy hiểm của chứng bệnh cao huyết áp, các chuyên gia đều cho rằng nên ưu tiên trị liệu bằng Đông y. Tây y có tác dụng phụ  rất lớn, tính phụ thuộc cao.

Biến chứng của cao huyết áp

Người mắc bệnh cao huyết áp do bởi áp lực động mạch liên tục tăng cao, dẫn đến những động mạch nhỏ toàn thân bị xơ cứng, từ đó ảnh hưởng đến sự cung cấp huyết dịch của các cơ quan tổ chức, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, dẫn đến những biến chứng của cao huyết áp. Những biến chứng thường thấy của cao huyết áp là bệnh tim mạch vành, bệnh tiểu đường, lực tim bị suy kiệt, mỡ máu cao, bệnh thận, các bệnh tật của động mạch ngoại biên, trúng gió, tâm thất trái mập dày…Trong các loại biến chứng của cao huyết áp thì những tổn thương về tim, não và thận là nổi bật nhất.

Lực tim bị suy kiệt: Tim (chủ yếu là tâm thất trái) do phải khắc phục những lực cản vòng ngoài được tạo thành bởi các động mạch nhỏ toàn thân bị xơ cứng nên phải gia tăng khả năng làm việc, do đó dẫn đến sự bù đắp cơ tim tăng dày lên. Vách cơ tim tâm thất trái dần dần mập dày hơn, khoang tim cũng mở rộng ra, trọng lượng tim sẽ gia tăng. Đến khi cơ năng bù đắp không đủ thì sẽ trở thành bệnh tim có tính cao huyết áp, lực co bóp của cơ tim sẽ suy giảm nghiêm trọng làm cho lực tim bị suy kiệt. Bởi vì người bệnh cao huyết áp thường đi kèm chứng xơ cứng động mạch vành, làm cho tim vốn đã mang gánh nặng rơi vào tình trạng thiếu máu, thiếu dưỡng khí, do vậy càng dễ xảy ra tình trạng lực tim bị suy kiệt.

Não xuất huyết: lớp màng ngoài và tầng cơ của những động mạch nhỏ trong não đều không phát triển, vách động mạch mỏng yếu đi, những động mạch nhỏ trong não đã bị xơ cứng nếu như lại thêm co giật thì rất dễ xảy ra thấm huyết hay xuất huyết vỡ mạch (tức là não xuất huyết). Não xuất huyết chính là biến chứng nghiêm trọng nhất của bệnh cao huyết áp thời kỳ cuối. Bộ vị xuất huyết thường là ở gần nang trong và hạch đáy, triệu chứng lâm sàng thường là liệt một bên, mất ngôn ngữ…

Chức năng thận không toàn vẹn. Do bởi sự xơ cứng của những động mạch nhỏ hướng thận, khiến cho phần lớn những đơn vị thận ( tức là tiểu cầu thận và ống thận nhỏ), bởi vì thiếu máu mạn tính nên bị khô héo, kế đó những mô xơ sẽ phát sinh( chứng này gọi là xơ cứng thận cao huyết áp). Những đơn vị thận còn sót lại sẽ phát sinh tình trạng bù đắp sẽ gia tăng và mở rộng. Khi thận bị xơ cứng thì bên trong nước tiểu của người bệnh sẽ xuất hiện khá nhiều chất sụn cứng và hồng cầu.

Khi bệnh phát triển đến thời kỳ cuối, do bởi phần lớn đơn vị thận bị hư hại, nên chức năng bài tiết của thận sẽ gặp trở ngại, những sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi trong cơ thể như non-protein… không được bài tiết hoàn toàn mà sẽ còn đọng lại trong cơ thể, quá trình trao đổi muối nước và cân bằng axit Ba zơ sẽ phát sinh rối loạn, gây ra chứng cơ thể tự trúng độc, xuất hiện chứng bệnh nước tiểu máu.

TRỊ LIỆU HỒI PHỤC SỨC KHỎE VỀ BỆNH CAO HUYẾT ÁP

Kết hợp giữa trị liệu lâm sàng và trị liệu hồi phục sức khỏe có thể giúp làm giảm cao huyết áp, giảm nhẹ tình trạng bệnh, ổn định trị liệu được tốt hơn, đồng thời có thể giúp giảm đi liều lượng thuốc dùng. Trị liệu hồi phục sức khỏe còn giúp cải thiện chức năng huyết quản của tim và sự trao đổi mỡ máu, ngăn ngừa xơ cứng mạch máu, giảm thiểu những biến chứng của não, tim và thận. Tác dụng của trị liệu hồi phục sức khỏe còn có chức năng trên cả hai phương diện điều chỉnh và luyện tập. Phương pháp cụ thể gồm có:

1.Trị liệu bằng khí công: lấy công năng yên tịnh thư giãn làm chủ, yếu quyết là ở “cơ thể thư giãn, tâm yên tịnh, khí trầm ổn”. Người có thể trạng tương đối tốt có thể luyện công ở tư thế đứng trụ, người có thể trạng tương đối kém thì có thể luyện công ở tư thế ngồi.

Những chữ yếu quyết bên trên có công dụng trị liệu chứng cao huyết áp rất tốt, thông thường luyện công khoảng 1 tháng thì 90% người luyện đều cảm nhận được đã có được sự cải thiện ở một mức độ nào đó.

2. Thái cực quyền: là loại hình luyện tập vận động có tính duy trì ở cường độ thấp, có thể làm căng giãn huyết quản xung quanh, giúp tim được ôn hòa. Thái cực quyền lấy tĩnh từ trong động, yêu cầu thả lõng cơ bắp, “khí tụ đan điền”, có tác dụng tương tự như khí công

3. Đi bộ: Đi tản bộ trong một môi trường tốt hoặc là đi bộ với tốc độ bình thường từ 15-30 phút có tác dụng làm giảm huyết áp và cải thiện huyết quản tim và các chức năng trao đổi.

4. Thể dục trị liệu y tế: Đối với những người gặp khó khăn khi tập Thái Cực quyền thì có thể dạy tập thể dục (Yoga) lấy buông lõng thư giãn kết hợp với hô hấp, có thể sử dụng những động tác tương tự với Thái Cực quyền và chia ra từng phân đoạn để thực hiện.

5. Massage Shiatsu ấn huyệt đạo: ấn nhẹ ở Phong trì, Thái dương và Nhĩ huyệt, băng trán và bấm vào các huyệt Nội quan, Thần môn, Hợp cốc, Túc tam lí, có thể giúp giảm huyết áp và xóa bỏ các triệu chứng bệnh.

6. Vật lý trị liệu: Liệu pháp dùng Chăm cứu bằng “Đá Năng Lượng” và Thông Kinh Lạc không đau, Ion điện chuyển một số dược vật, sóng siêu ngắn xung mạch hay trị liệu bằng sóng siêu ngắn, trị liệu từ đều là các liệu pháp hỗ trợ có tác dụng làm ổn định và giảm huyết áp, giảm mỡ nội tạng, mỡ trong máu và hiệu quả cho việc giảm cân dưỡng sinh.

Biện pháp làm giảm huyết áp nhanh chóng:

Khi chữa trị các triệu chứng nguy hiểm của cao huyết áp và bệnh não cao huyết áp thì cần phải nhanh chóng làm giảm huyết áp, có thể sử dụng các biện pháp tiêm tĩnh mạch hay truyền dịch.

CÁC ĐIỀU CẦN CHÚ Ý VỚI CHỨNG CAO HUYẾT ÁP

– Chế độ ăn uống hợp lý

1.Tầm quan trọng của ăn uống đối với chứng cao huyết áp: Dân lấy ăn làm gốc, chế độ ăn uống hợp lý có thể giúp chúng ta không béo phì nhưng cũng gầy ốm, cholesterol không cao cũng không thấp.

2. Những thực phẩm thích hợp và cấm kỵ đối với người mắc chứng cao huyết áp:

Các thực phẩm chứa Carbohydrate:

Thực phẩm thích hợp gồm có: cơm, cháo, mì, bột mỳ các loại, bột hoàng tinh, canh, khoai môn các loại, các loại đậu mềm.

Thực phẩm cần tránh gồm có: khoai tây ngọt (thực phẩm gây đầy hơi bụng), các loại đậu khô, các loại bánh quy có vị nồng.

Các thực phẩm chứa Protein:

Thực phẩm thích hợp gồm có: thịt bò, thịt heo nạc, thịt cá whitefish, trứng, sữa, các chế phẩm từ sữa (kem bọc sữa, sữa nguyên chất, kem, pho mát), các chế phẩm từ đậu nành (đậu hũ, natto, bột đậu nành, đậu hũ chiên).

Thực phẩm cần tránh gồm có: các loại thực phẩm có chứa nhiều mỡ (thịt bò, thịt ba rọi của heo và bò, sườn, cá voi, cá trích, cá ngừ califoni…), các sản phẩm chế biến (xúc xích).

Các thực phẩm có chứa mỡ:

Thực phẩm thích hợp gồm có: dầu thực vật, dầu có hàm lượng sữa ít, nước sốt salad.

Thực phẩm cần tránh gồm có: dầu động vật, dầu mỡ heo, thịt hun khói, cá sardin rưới dầu.

Các loại thực phẩm chứa Vitamin và khoáng chất:

Thực phẩm thích hợp gồm có: các loại rau cải (bó xôi, cải trắng, cà rốt, cà chua, rễ bách hợp, bí ngô, cà tím, dưa leo), các loại trái cây (táo, quýt, lê, nho, dưa hấu), các loại rong biển, các loại nấm thì nên nấu chín rồi hãy ăn.

Thực phẩm cần tránh gồm có: các loại rau có chất xơ cứng (ngưu bàng, măng, các loại đậu)…!!!gây xung đột với “Các bí quyết ẩm thực về chứng cao huyết áp” bên dưới!!!, các loại rau có tính kích thích mạnh (các loại rau gia vị, rau ngò, cải bẹ xanh, hành…)

Các loại thực phẩm khác:

Thực phẩm thích hợp gồm có: các loại trà hương nhẹ, thức uống sữa nguyên chất.

Thực phẩm cần tránh gồm có: các gia vị (ớt, bột cà ri), thức uống rượu bia, thực phẩm ngâm muối ( các loại cải muối, cá muối) các loại sốt rau cải, cà phê.

3. Những thói quen ăn uống mà người bệnh cao huyết áp cần chú ý:

Đầu tiên cần phải khống chế được sự hấp thu năng lượng, khuyến khích nên ăn những loại đường phức hợp như tinh bột, bắp, nên ít ăn đường nho, đường trái cây, đường mía. Những loại đường này đều là đường đơn, rất dễ làm cho mỡ máu tăng cao.

Hạn chế sự hấp thu mỡ: khi nấu nướng hãy sữ dụng dầu thực vật, nên ăn nhiều cá biển, trong cá biển có chứa axit béo không no, có thể đốt cháy cholesterol, từ đó giúp làm giảm cholesterol trong máu, ngoài ra còn có thể kéo dài sự ngưng tụ của tiểu cầu, chống lại sự hình thành gây tắc nghẽn máu, ngăn ngừa trúng gió, ngoài ra còn chứa nhiều axit linoleic, có tác dụng nhất định với việc gia tăng tính đàn hồi của các mạch máu nhỏ, ngăn ngừa nứt vỡ mạch máu, chống lại những biến chứng của cao huyết áp.

Hấp thụ Protein với lượng thích hợp: Đối với những người bị bệnh cao huyết áp thì lượng protein mỗi ngày nên chỉ là 1g cho mỗi kg trọng lượng cơ thể. Mỗi tuần nên ăn 2-3 lần protein của các loại cá, có thể giúp cải thiện tính đàn hồi và tính thông suốt của mạch máu, nâng cao khả năng bài tiết Una, từ đó giúp làm giảm huyết áp. Nếu như bị cao huyết áp kèm theo chức năng thận không tốt thì nên hạn chế lượng protein hấp thu.

Nên ăn nhiều các loại thực phẩm có chứa nhiều kali, canxi, ít natri, chẳng hạn như khoai tây, cà tím, tảo bẹ, măng tây. Những thực phẩm có chứa nhiều canxi như: sữa bò, sữa chua, vỏ tôm. Nên ít ăn các loại canh thịt, bởi vì trong canh thịt có chứa chất trích xuất Nitrogen rất nhiều, có thể thúc đẩy sự gia tăng của axit uric trong cơ thể, làm tăng thêm gánh nặng cho tim, gan, thận.

Hạn chế lượng muối hấp thu: Mỗi ngày nên giảm dần xuống dưới 6g, tức là bằng nắp bia bình thường sau khi đã bỏ lớp cao su đệm, một lượng muối ăn bằng mặt nắp vào khoảng chừng 6g. Hàm lượng này tức là chỉ lượng muối ăn bao gồm lượng muối khi nấu ăn và tổng lượng muối ăn hình thành khi phân giải Natri trong các loại thực phẩm. Điều chỉnh giảm lượng muối Natri thích hợp sẽ rất có ích cho việc giảm huyết áp, làm giảm sự tích tụ muối và nước trong cơ thể.

Nên ăn nhiều các loại rau củ, trái cây tươi. Mỗi ngày nên ăn các loại rau củ tươi sống không dưới 8 lạng, trái cây từ 2-4 lạng.

Tăng cường hấp thu một lượng hải sản thích hợp: như tảo bẹ, tảo tía, các loại cá biển…

4.Rau quả:

Mỗi ngày cơ thể cần có các vitamin nhóm B, vitamin C, có thể hấp thu bằng cách ăn nhiều các loại rau quả tươi sống. Có người khuyên rằng mỗi ngày nên ăn từ 1-2 trái táo thì rất có ích cho sức khỏe, trái cây còn có thể bổ sung canxi, kali, sắt, magie…

 5. Bổ sung canxi:

Có người mỗi ngày đều cho người bệnh cao huyết áp uống 1 viên canxi thì phát hiện rằng 8 tuần sau đó huyết áp đã giảm xuống. Do đó nên ăn nhiều các thực phẩm có chứa nhiều canxi, như đậu nành, hạt hướng dương, hồ đào, sữa bò, đậu phộng, tôm cá, chà là đỏ, tần ô tươi, tỏi non, rau tía…

6.Bổ sung sắt:

Theo nghiên cứu cho thấy, những người già mắc chứng cao huyết áp thì lượng sắt trong máu thấp hơn bình thường, do đó nếu ăn nhiều các thực phẩm chứa nhiều sắt như đậu hòa lan, nấm mèo…thì chẳng những có thể làm giảm huyết áp mà còn giúp khắc phục chứng thiếu máu.

Vận động thích hợp:

Tầm quan trọng của vận động với chứng cao huyết áp: có một câu nói rằng “khi còn trẻ thì dùng sức khỏe để đổi lấy tiền bạc, khi về già thì dùng vận động để đổi lấy sức khỏe”. Vận động ngoài việc có thể giúp cho huyết dịch tuần hoàn, làm giảm sự hình thành của cholesterol, lại còn có thể tăng cường cơ bắp, gân cốt và ngăn ngừa xơ cứng các khớp xương. Vận động có thể nâng cao sự thèm ăn, thúc đẩy sự tiêu hóa của dạ dày, ngăn ngừa kiết lỵ, cải thiện giấc ngủ. Có thói quen thường xuyên vận động: tốt nhất là nên thực hiện các loại hình vận động điều hòa hơi thở thì mới có công dụng. Vận động điều hòa hơi thở cũng giống như giảm cân vậy, có thể giúp giảm huyết áp, chẳng hạn như: tản bộ, chạy chậm, thái cực quyền, chạy xe đạp và bơi lội đều là các hình thức vận động điều hòa hơi thở.

  1. Những điều cần chú ý khi vận động:

Không nên vận động quá sức, quá nặng nhọc, quá mệt, nên áp dụng phương thức tuần tự tăng tiến để gia tăng dần cường độ vận động.

Chú ý hoàn cảnh không khí xung quanh: mùa hè: nên tránh những lúc ánh nắng chói chang; mùa đông: phải chú ý giữ ấm cơ thể, phòng trúng gió.

Mặc những quần áo dễ chịu, mau khô thoáng: chọn quần áo có chất liệu bông, giày thể thao…là những thứ cần thiết.

Chọn những nơi an toàn: như công viên, trường học, không nên trong các ngõ hẻm, bên lề đường.

Khi vận động không nên để bụng đói, để phòng khi bị hạ đường huyết, chỉ nên vận động sau khi ăn cơm 2 tiếng.

  1. Những cấm kỵ khi vận động:

Khi bị bệnh hay cơ thể không thoải mái thì hãy ngừng vận động.

Khi bụng đói hay sau bữa cơm 1 tiếng đồng hồ thì cũng không nên vận động.

Trong khi vận động không nên lập tức ngừng ngay, hãy tuân thủ từng bước của quy trình vận động.

Trong khi vận động nếu thấy có hiện tượng nào không thoải mái thì hãy lập tức ngừng ngay vận động.

  1. Cai thuốc, hạn chế rượu.
  2. Tâm lý cân bằng

Biểu hiện tâm lý của những người bệnh cao huyết áp thường là căng thẳng, dễ nóng giận, tâm trạng không ổn định, đây đều là những nguyên nhân gây cho huyết áp tăng cao. Người bệnh có thể thông qua việc thay đổi phương thức hành vi của bản thân để bồi dưỡng năng lực thích ứng tốt với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, tránh để tình cảm kích động và căng thẳng, lo lắng quá mức, gặp chuyện phải bình tĩnh, trầm ổn; khi gặp phải áp lực tinh thần tương đối lớn thì hãy nghĩ cách để giải phóng, có thể chia sẻ với bạn bè, người thân, hoặc giả tham gia các hoạt động thư giãn thoải mái ngoài giờ, để tinh thần hòa vào âm nhạc, hay gửi tình cảm vào hoa cỏ, hãy để bản thân sống trong 1 môi trường tốt đẹp, từ đó sẽ duy trì ổn định được huyết áp.

  1. Tự quản lý

Kiểm tra huyết áp định kỳ: 1-2 tuần phải kiểm tra ít nhất 1 lần.

Khi trị liệu chứng cao huyết áp phải kiên trì “3 điều” là lòng tin, quyết tâm và kiên nhẫn, chỉ có như thế mới có thể ngăn ngừa hay làm chậm quá trình các cơ quan quan trọng trong cơ thể bị tổn hại.

Dùng thuốc giảm huyết áp đúng giờ giấc, bản thân không được tùy ý giảm liều lượng hay ngưng dùng, có thể dựa theo chỉ dẫn của bác sĩ và tình trạng bệnh để điều chỉnh, ngăn ngừa huyết áp tăng lại.

Nếu điều kiện cho phép hãy tự trang bị thiết bị đo huyết áp và học cách tự kiểm tra.

Ngoài việc dùng các loại thuốc thích hợp ra thì cũng cần phải chú ý kết hợp nghỉ ngơi, chú ý đến ăn uống, vận động thích hợp, luôn giữ tinh thần ổ định, ngủ đầy đủ.

Người già khi muốn giảm huyết áp thì không nên quá gấp vội, nên giữ huyết áp vào khoảng 140-159mmhg là tốt, giảm thiểu những biến chứng mạch máu của tim, não.

Người già và việc sử dụng thuốc ức chế gốc thần kinh tiết epinephrin giúp ngăn chặn tụt huyết áp thế đứng.

Không cần thiết phải nghiêm cấm sinh hoạt đời sống vợ chồng: cần chú ý trong những trường hợp sau thì không nên sinh hoạt: 1) sau khi xảy ra chuyện không nên lập tức tiến hành sinh hoạt 2) sau khi uống rượu thì không nên sinh hoạt 3) nếu như cảm thấy chóng mặt, buồn nôn… thì phải lập ngừng sinh hoạt ngay, đồng thời đến bệnh viện kiểm tra ngay.

Tự chăm sóc tại nhà

 Tầm quan trọng của nghỉ ngơi lâm sàng: nằm ngủ ở tư thế nằm nghiêng bên trái có thể làm giảm nhẹ lực đè của tử cung xuống tĩnh mạch khoang dưới, do đó làm gia tăng tính hồi lưu của tĩnh mạch, từ đó giúp nâng cao dòng huyết lưu đổ vào tuần hoàn huyết dịch toàn thân, nhau thai và thận, làm giảm huyết áp xuống.

‚      Quan sát những khối u phù nề: thông thường khi mang thai ở thời kỳ cuối thì ở phần chân sẽ có tình trạng sưng phù, thế nhưng những tình trạng sưng phù về cao huyết áp khi đang mang thai thì thông thường lại xuất hiện ở thời kỳ thứ 2 của thai kỳ (mang thai từ 4 ~6 tháng) và dần dần sẽ phát triển lên đến mí mắt.

6. Chữa trị kịp lúc

      Sau khi uống thuốc xong ‚ huyết áp tăng cao hoặc xuống quá thấp, biến động của huyết áp lớn ƒ xuất hiện tình trạng, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, mắt nhìn vật không rõ, liệt một bên, mất ngôn ngữ, trở ngại ý thức, hô hấp khó khăn, tứ chi không có sức lực…thì phải lập tức đến bệnh viện để chữa trị. Nếu như bệnh tình nghiêm trọng thì hãy đến cấp cứu tại trung tâm cấp cứu 120.

NHỮNG CHÚ Ý ĂN UỐNG CỦA CHỨNG CAO HUYẾT ÁP Ở THỜI KỲ TIỀN MÃN KINH

Bệnh cao huyết áp là chứng bệnh thường gặp phải ở những người ở thời kỳ tiền mãn kinh, người bệnh ngoài việc uống thuốc men để chữa trị ra thì việc ăn uống điều độ khoa học cũng rất quan trọng.

  1. Khống chế lượng nhiệt năng hấp thụ, giảm thiểu những thức ăn có lượng mỡ cao. Người bị cao huyết áp nếu như lượng nhiệt năng hấp thụ từ thức ăn quá nhiều, tỉ lệ giữa lượng mỡ bảo hòa và không bảo hòa bị mất cân bằng, quá nhiều Natri nhưng lại thiếu Kali, Canxi, lượng đường đơn quá nhiều, chất xơ quá nhiều…tất cả đều không tốt. Do vậy, cần phải giảm thiểu lượng mỡ có trong thức ăn, đặc biệt là mỡ động vật, như thịt mỡ, ruột heo…
  2. Nên ăn những thực phẩm có hàm lượng cholesterol thấp. Thực phẩm có cholesterol cao như là nội tạng động vật, lòng đỏ trứng, trứng cá, các loại dầu động vật. Thực phẩm có hàm lượng cholesterol thấp như là: sữa (mỗi 100g có chứa 13mg), các loại cá nước ngọt (mỗi 100g có chứa 90-103mg). Thế nhưng mỗi 100g gan heo lại có đến 368mg, 100g lòng đỏ trứng gà có chứa đến 1705mg cholesterol.
  3. Hạn chế những thực phẩm có chứa hàm lượng đường cao. Đặc biệt là đối với người béo phì hoặc là người bị cao huyết áp có xu hướng béo phì. Nên ít ăn bánh kem, bánh ngọt, điểm tâm ngọt, kẹo…
  4. Kiểm soát lượng muối ăn hấp thụ. Thông thường những người bị cao huyết áp ở mức độ nhẹ thì mỗi ngày lượng muối ăn hấp thụ ở mỗi người nên khống chế từ 6-8g trở xuống; những người bị cao huyết áp cấp tính thì lượng muối ăn phải kiểm soát chặt chẽ từ 1-2g trở xuống. Phần lớn những thực phẩm có hàm lượng muối nhiều như cải muối, thịt muối, sữa lên men…đều là những thứ cần phải hạn chế.
  5. Nên ăn nhiều rau cải tươi sống. Tùy theo tình trạng rau cải ngoài chợ, dựa theo yêu cầu hấp thụ thực phẩm có hàm lượng mỡ thấp nên gia tăng hấp thụ một lượng rau cải tươi sống thích hợp, như rau cần, dưa leo, đậu đũa, cà chua…, đều rất có ích với người bị bệnh cao huyết áp.

LIỆU PHÁP DÙNG TRÀ GIẢM CAO HUYẾT ÁP

1.Trà kiều mạch đắng: trong trà kiều mạch đắng có chứa Rutin giúp làm mềm huyết quản, có công dụng làm giảm mỡ máu, đường huyết, giảm huyết áp, giảm béo trừ độc, làm sạch cặn bã trong cơ thể, giúp kích hoạt tiết ra insulin. Ngoài ra còn có công dụng dưỡng gan, bảo vệ gan, giải rượu một cách thần kỳ.

2. Hoa tam thất: hoa Điền thất cũng tức là hoa Tam thất. Chất liệu mềm dễ vỡ, hơi nhẹ, vị ngọt hơi đắng, giúp làm giảm mỡ máu, giảm huyết áp, ngừa ung thư, nâng cao khả năng cung cấp dưỡng khí cho cơ tim, tăng cường chức năng miễn dịch cho cơ thể. Công dụng của hoa Tam thất vô cùng nổi bật, được sử dụng rộng rãi cho nhóm bệnh cao huyết áp, có thể pha nước uống trực tiếp.

3. Trà hoa cúc: tất cả hoa cúc đều là cây họ cúc, vị của nó không đắng, cúc trắng lớn và cúc trắng nhỏ sinh trưởng ở vùng Tô châu, Hàng châu được xem là tốt nhất, mỗi lần dùng khoảng 3g để pha trà uống, mỗi ngày 3 lần.

4.Trà Ngưu bàng Gia Đức: nguyên lý hỗ trợ giảm áp lực, chất xơ rau củ có trong rễ cây ngưu bàng có tác dụng hút bám Natri, đồng thời theo phân bài tiết ra ngoài cơ thể, làm hàm lượng Natri có trong cơ thể được giảm xuống, hàm lượng Canxi có trong rễ cây Ngưu bàng là cao nhất trong các loại rau quả dạng rễ củ, canxi có tác dụng đưa Natri vào trong nước tiểu và bài tiết ra ngoài cơ thể;Glycoside ngưu bàng có trong rễ cây Ngưu bàng có thể giúp cho huyết quản giãn nở, đạt được công hiệu làm giảm huyết áp. Phương pháp uống: mỗi ngày từ 5-8g, không uống chung với các loại trà khác, lá trà sau khi pha xong thì nên ăn luôn là tốt nhất.

5. Trà Sơn tra: Thành phần chứa trong Sơn tra có thể giúp tiêu hóa, làm trương giãn huyết quản, giảm lượng đường huyết, hạ huyết áp. Nếu dùng trà Sơn tra thường xuyên sẽ tác dụng bỗ trợ rõ rệt trong việc trị liệu chứng cao huyết áp. Cách thức uống loại trà này là: mỗi ngày đều dùng 1-2 quả Sơn tra non để pha trà uống một vài lần.

6. Trà lá sen: Theo tiễn Đông y cho thấy: nước thuốc ngâm lá sen hay canh thuốc lá sen có công dụng làm giãn nở huyết quản, thanh nhiệt hạ nóng và giảm huyết áp. Ngoài ra lá sen còn là một vị thuốc rất tốt để khử mỡ giảm béo. Cách thức uống trà để trị liệu cao huyết áp như sau: dùng nửa chiếc lá sen non rửa sạch rồi cắt nhỏ ra, thêm vào một lượng nước thích hợp, nấu sôi lên để nguội, dùng uống thay trà.

7. Trà hoa Hòe: hái nụ hoa của hoa Hòe đem phơi khô, dùng nước sôi pha uống thay trà. Mỗi ngày uống một vài lần, có hiệu quả trị liệu rất tốt với những người bị bệnh cao huyết áp. Ngoài ra, hoa Hòe còn có các công dụng co huyết quản, ngừng máu…

8. Trà Thủ ô: Trà Thủ ô có công dụng làm giảm mỡ máu, làm giảm sự hình thành tắc nghẽn huyết mạch. Người có mỡ máu tăng cao nếu thường xuyên dùng trà Thủ ô thì hiệu quả rất tốt. Phương pháp chế biến là lấy 20-30g Thủ ô, cho nước vào và nấu trong vòng 30 phút, sau đó để nguội và uống thay trà. Mỗi ngày là một liều dùng.

9. Trà rễ sắn: Rễ dây sắn có công dụng cải thiện tuần hoàn huyết dịch não bộ, đối với các chứng nhức đầu, hoa mắt, ù tai, đau lưng, nhức chân…do cao huyết áp gây ra đều có tác dụng thuyên giảm tương đối tốt. Thường xuyên uống trà rễ sắn sẽ mang lại hiệu quả trị liệu chứng cao huyết áp rất tốt. Cách thức chế biến như sau: dùng rễ dây sắn rửa sạch, cắt thành miếng mỏng, mỗi ngày dùng khoảng 30g, thêm nước vào đun sôi lên rồi dùng uống thay trà.

10. Trà hạt sen: Hạt sen chính là phôi mầm non màu xanh chính giữa hoa sen, mùi vị của nó cực đắng, nhưng lại có công dụng giảm huyết áp, tiêu mỡ rất tốt. Dùng 12g hạt sen pha với nước sôi uống thay trà, mỗi ngày sớm tối đều uống một lần, ngoài việc có thể làm giảm huyết áp ra còn có các công dụng thanh nhiệt, an thần, khỏe tim.

11. Trà hạt Quyết minh tử: Quyết minh tử dùng trong Đông y có công dụng làm giảm huyết áp, giảm mỡ máu, sạch gan, sáng mắt…. Thường xuyên uống trà Quyết minh tử có công dụng trị liệu chứng cao huyết áp. Mỗi ngày dùng 15-20g hạt Quyết minh tử pha nước sôi uống thay trà một vài lần, thì có thể được xem là diệu phẩm để trị các chứng cao huyết áp, đầu váng mắt hoa, mắt nhìn không rõ vật.

12. Trà Tang ký sinh: Thảo mộc Đông y gọi Tang ký sinh là vị thuốc quan trọng để bổ máu, bổ huyết. Đông y lâm sàng cho thấy, dùng Tang ký sinh nấu sôi lên uống thay trà sẽ có công dụng hỗ trợ trị liệu chứng cao huyết áp rất rõ rệt. cách chế biến trà Tang ký sinh như sau: lấy 15g Tang ký sinh khô, đun sôi lên sau 15 phút rồi uống, mỗi ngày sớm tối uống một lần.

13. Trà Đỗ Trọng: Trà Đỗ trọng có công dụng điều tiết huyết áp hai chiều, có thể giảm thấp huyết áp của người mắc chứng cao huyết áp, ngăn ngừa huyết áp của người bình thường tăng cao lên, cải thiện chứng mất ngủ, chóng mặt của người mắc chứng cao huyết áp. Được giáo sư Hồ Tú Anh ở đại học Havard khen tặng là dược vật thiên nhiên giúp giảm cao huyết áp tốt nhất trên thế giới.

CÁC BÍ QUYẾT ẨM THỰC VỀ CHỨNG CAO HUYẾT ÁP

Tam thực:

Ăn uống nên sắp xếp theo hình thức lượng ít nhưng nhiều bữa, tránh tình trạng ăn quá no; những người mắc chứng cao huyết áp thông thường hơi béo phì, cần phải ăn những thực phẩm có nhiệt năng thấp, tổng lượng nhiệt năng mỗi ngày chỉ nên khống chế  vào khoảng 8.36 MJ, mỗi ngày món ăn chính chỉ nên có từ 150-250g, scleroprotein động vật và thực vật mỗi thứ chiếm 50%. Người mắc chứng cao huyết áp nhưng không kèm theo các bệnh thận và thống phong thì có thể ăn kèm theo các loại đậu, đậu phộng, nấm mèo đen hoặc nấm mèo trắng và trái cây. Buổi tối chỉ nên ăn ít và thanh đạm, thức ăn có quá nhiều dầu mỡ sẽ rất dễ dẫn đến trúng gió. Dầu ăn nên dùng dầu thực vật có chứa vitamin E và axit linoleic; không ăn ngọt. Nên ăn các thực phẩm có chất xơ cao, như măng, cải bẹ trắng, bắp cải thảo, bí đao, cà chua, cà tím, giá sống, sứa biển, rong biển, hành tây…, cùng với một ít cá, tôm, thịt gia cầm, sữa bột đã khử béo, lòng trắng trứng…

Ít muối:

Mỗi ngày lượng muối hấp thu của mỗi người chỉ nên khống chế ở mức 2-5g, tức là bằng 1 muỗng canh nhỏ mà thôi. Ngoài ra còn phải giảm lượng Natri có trong nước tương dùng để gia vị thức ăn, 3ml nước tương thì tương đương với 1g muối. Các loại rau cải như cải muối (tương), sữa lên men, thịt (trứng) muối, thực phẩm ướp muối, các loại sò, tép, hột vịt bách thảo, tần ô, rau kim hoa, rau muống…đều có chứa hàm lượng muối tương đối cao, chỉ nên ăn ít thôi hoặc là không ăn.

Kali cao:

Thưc phẩm có chứa hàm lượng Kali cao khi vào cơ thể có thể chống lại các ảnh hưởng làm tổn thương huyết quản và tăng huyết áp do hàm lượng Natri gây ra, cho nên có thể “xuất hiện” thường xuyên trong thực đơn. Những thực phẩm này gồm có: các loại đậu, nấm đông cô, táo tàu, hạnh nhân, bồ đào, đậu phộng, khoai tây, măng tre, thịt nạc, cá, các loại thịt gia cầm, các loại rau củ thân rễ như rau dền 3 màu, cải dầu, hành lớn…, trái cây gồm có: chuối, táo tàu, đào, quýt…. Cá thì cho dù là loại nào cũng nên là chọn lựa ưu tiên đối với người bị bệnh cao huyết áp, do bởi theo điều tra những bệnh học đang phổ biến thì người ăn cá mỗi tuần so với người không ăn thì tỉ lệ tử vong vì bệnh tim mạch rõ ràng là thấp hơn hẳn.

Rau củ:

Mỗi ngày cơ thể con người đều cần các vitamin nhóm B, vitamin C, có thể bổ sung các vitamin này thông qua ăn nhiều các loại rau củ tươi sống. Có người khuyên rằng mỗi ngày nên ăn từ 1-2 trái táo thì rất có ích cho sức khỏe, trái cây còn có thể bổ sung canxi, kali, sắt, magie… Về bổ sung canxi thì có người mỗi ngày đều cho người bệnh cao huyết áp uống 1 viên canxi thì phát hiện rằng 8 tuần sau đó huyết áp đã giảm xuống. Do đó nên ăn nhiều các thực phẩm có chứa nhiều canxi, như đậu nành, hạt hướng dương, hồ đào, sữa bò, đậu phộng, tôm cá, chà là đỏ, tần ô tươi, tỏi non, rau tía…

Bổ sung sắt:

Theo nghiên cứu cho thấy, những người già mắc chứng cao huyết áp thì lượng sắt trong máu thấp hơn bình thường, do đó nếu ăn nhiều các thực phẩm chứa nhiều sắt như đậu ván, nấm mèo…thì chẳng những có thể làm giảm huyết áp mà còn giúp khắc phục chứng thiếu máu.

Uống nước:

Trong nước khoáng thiên nhiên có chứa các nguyên tố vi lượng cần thiết  cho cơ thể người là Lithium, Strontium, zincum, selenium, iodine…,nước sau khi đun sôi sẽ sinh ra cặn lắng, điều này hẵn nhiên sẽ làm giảm đi các nguyên tố vi lượng có ích của cơ thể như là Canxi, kali, magne, kẽm, fluorum…. Do đó mỗi ngày nên dùng 4-6g lá trà (tương đương với 2-3 túi trà pha) để pha uống , dùng trong thời gian dài sẽ rất có ích cho cơ thể.

Các nguyên tắc về ẩm thực trên nếu như những người bệnh cao huyết áp có thể thực hiện tốt, kiên trì không bỏ thì nhất định sẽ có ích cho sức khỏe.

Các thực phẩm giúp làm giảm huyết áp:

Các loại rau dạng lá: rau cần, tần ô, rau dền, cải dầu, rau hẹ, rau hoàng hoa, rau tề, bó xôi…

Các loại rau dạng thân rễ: rau gạo dại, măng tây, củ cải trắng, cà rốt, củ năng, rau lữu;

Các loại dưa, trái cây: dưa hấu, bí đao, cà chua, sơn tra, chanh, chuối, trái cây, táo đỏ, dâu tằm, cà tím;

Các loại hoa, hạt và quả cứng: hoa cúc, la bố ma, mè đen, đậu hòa lan, đậu tằm, đậu xanh, bắp, kiều mạch, đậu phộng, hạt dưa, hồ đào, hạt hướng dương, hạt sen;

Các loại thủy sản: rong biển, rau tía, sứa biển, hải sâm, cải xanh, tảo biển, hàu, bào ngư, tép, cá bạc;

Các loại động vật và thực phẩm khác: sữa bò (khử béo), mật heo, ngưu hoàng, mật ong, dấm ăn, các chế phẩm từ đậu, nấm meo đen, nấm mèo trắng, nấm hương.

CÔNG TY CP ĐÀO TẠO & PHÁT TRIỂN SPA VIỆT NAM

HOTLINE : 0989999569 – 0989999359 – 0989999129

WEBSITE : DONGNAMDUOC.COM – DANANGLUONG.VN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

.
.
.
.